ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HỒ CHÍ MINH
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TRẦN LUẬT
(TRAN LUAT LAW OFFICE)

Trụ sở chính: 129 Dương Quảng Hàm, P.7, Q. Gò Vấp, TP.HCM
Chi nhánh 1 - tỉnh Bình Dương: 600 Lê Hồng Phong, phường Phú Hòa, Tp Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Chi nhánh 2 - tỉnh Bình Dương: Đường ĐT 741, khu phố An Hòa, TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương
ĐT: (08) 22144773
 Tran Luat Law Office

HOTLINE

0971.777.433

Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015

THS. NCS. LÝ VĂN TOÁN TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang – LÂM THỊ MINH HIẾU ( VKSND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) – Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung phân tích quy định quyền về lối đi qua trong BLDS 2015, những hạn chế, bất cập và đưa ra đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Quyền đối với bất động sản liền kề là một quyền phái sinh từ chế định sở hữu, xuất hiện từ thời La Mã cổ đại và được quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS). Trong các quyền đối với bất động sản liền kề, quyền về lối đi qua là một quyền đặc biệt quan trọng. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung phân tích quy định quyền về lối đi qua trong BLDS 2015, những hạn chế, bất cập và đưa ra đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1. Những vấn đề chung trong quy định quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

Điều 245 BLDS 2015 đưa ra khái niệm quyền đối với bất động sản liền kề như sau: “Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền)”. Như vậy, quyền đối với bất động sản liền kề về bản chất là vật quyền, quyền này gắn liền với hai bất động sản (hưởng quyền và chịu hưởng quyền) chứ không gắn với chủ sở hữu bất động sản, khi thay đổi chủ sở hữu thì quyền này sẽ không bị mất đi mà chuyển từ chủ sở hữu cũ sang chủ sở hữu mới, chủ sở hữu mới sẽ được hưởng quyền, còn chủ sở hữu cũ sẽ chấm dứt quyền.

Quyền về lối đi qua là một trong những quyền đối với bất động sản liền kề. Việc ghi nhận quyền này thể hiện tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, đề cao tình làng nghĩa xóm theo tinh thần của dân tộc Việt Nam, đồng thời đảm bảo cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền và chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền.

1.1. Điều kiện áp dụng quyền về lối đi

Theo Điều 254 BLDS 2015 về điều kiện được mở lối đi, trước tiên là bất động sản phải bị vây bọc. BLDS 2015 không có giải thích như thế nào là bị vây bọc. Tuy nhiên, ta có thể hiểu một bất động sản bị vây bọc nghĩa là bị bao bọc bởi một hoặc nhiều bất động sản xung quanh dẫn đến việc không thể trực tiếp thông thương với đường công cộng hoặc lối thông thương quá nhỏ dẫn đến việc khai thác, sử dụng bất động sản bị hạn chế.

Điều kiện thứ hai là không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng. Không có lối đi nghĩa là không có bất cứ một lối đi nào, chủ sở hữu sẽ không thể thông thương với đường công cộng cũng như không thể khai thác, sử dụng bất động sản của mình; không đủ lối đi nghĩa là thực tế vẫn có lối đi nhưng do lối đi quá hẹp hoặc quá ngắn không đủ để chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc có thể đi ra đến đường công cộng, việc khai thác, sử dụng bất động sản bị hạn chế. Như vậy, trong trường hợp chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc hoàn toàn dẫn đến không có lối đi hoặc có lối đi nhưng không đủ gây khó khăn trong việc khai thác, sử dụng bất động sản của mình thì có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc mở cho mình một lối đi.

Lối đi được mở phải thuận tiện và hợp lý. Việc mở lối đi phải xem xét kĩ lưỡng điều kiện này để hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền. Khi mở lối đi phải tính đến vị trí địa lý và đặc điểm của vị trí đó, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và khả năng gây thiệt hại cho bất động sản vây bọc. Lối đi phải được mở như thế nào? Bên trái hay bên phải, phía ngoài hay phía trong, đi thẳng hay đi vòng, chiều dài, chiều rộng, chiều cao là bao nhiêu, những vấn đề này phải được các bên tính toán kĩ lưỡng, cụ thể và sau đó thỏa thuận với nhau, đảm bảo cân bằng lợi ích và hài hòa trong mối quan hệ giữa các chủ thể. BLDS 2015 chỉ quy định vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên, chứ không quy định cụ thể như thế nào là thuận tiện và hợp lý? Lối đi được mở để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày hay lối đi vừa phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày vừa phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh?

Về vấn đề đền bù, chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đứng trên phương diện là chủ sở hữu thì chủ sở hữu chịu hưởng quyền có toàn quyền khai thác và sử dụng đối với bất động sản của mình, tuy nhiên vì phải dành cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền một lối đi nên quyền khai thác, sử dụng bất động sản của họ bị hạn chế. Theo quy định của BLDS 2015 thì đền bù không phải là điều kiện mở lối đi mà chỉ là hệ quả của việc mở lối đi mà thôi [1]. Việc chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền mang ý nghĩa hỗ trợ vật chất vì quyền sở hữu bất động sản bị hạn chế.

Trường hợp bất động sản được phân chia do thừa kế, tặng cho, mua bán… cho nhiều chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì họ phải dành một lối đi cho người phía trong. Tuy nhiên có hai trường hợp: (1) Sau khi phân chia vẫn còn diện tích để dành một lối đi; (2) Sau khi phân chia không còn diện tích đất để mở lối đi, theo quy định của luật, lối đi phải mở được xác định là đối với các bất động sản có cùng nguồn gốc, như vậy, đối với các bất động sản liền kề khác thì như thế nào? Đối với trường hợp này, nếu diện tích của các bất động sản được phân chia quá nhỏ, không thể khai thác và sử dụng để mở lối đi thì có thể yêu cầu mở lối đi qua các bất động sản liền kề khác hay không?

1.2. Căn cứ xác lập và chấm dứt quyền về lối đi

1.2.1. Căn cứ xác lập quyền về lối đi

Quyền về lối đi là một trong những quyền đối với bất động sản liền kề, nên căn cứ xác lập được quy định tại Điều 246 BLDS 2015 là do địa thế tự nhiên, theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc.

Vấn đề xác lập theo quy định của luật, tại khoản 1 Điều 254 BLDS 2015 có quy định “chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ”. Điều này nghĩa là chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc khi họ không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng có quyền yêu cầu được mở lối đi, quyền này được xác lập trực tiếp theo quy định của luật.

Vấn đề xác lập theo thỏa thuận, luật cho phép chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc có quyền yêu cầu được mở lối đi, tuy nhiên mở lối đi như thế nào, về vị trí, giới hạn chiều dài, chiều cao, chiều rộng của lối đi thì phải do các bên thỏa thuận, chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc không có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc mở lối đi theo ý muốn của mình. Nếu các bên có tranh chấp thì có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền khác xác định.

Vấn đề xác lập theo di chúc. Di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của cá nhân. Nếu chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc để lại di chúc thể hiện nội dung để cho người thừa kế của họ được hưởng quyền về lối đi thì chủ sở hữu bất động sản vây bọc phải tôn trọng quyền này của người thừa kế. Như vậy, quyền về lối đi của người thừa kế đương nhiên được xác lập theo di chúc trong trường hợp này.

1.2.2. Căn cứ chấm dứt quyền về lối đi

Căn cứ chấm dứt quyền về lối đi được quy định tại Điều 256 BLDS 2015, đó là: (1) Trường hợp chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc và bất động sản vây bọc là cùng một người; (2) Việc sử dụng, khai thác lối đi không còn làm phát sinh nhu cầu hưởng quyền của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc; (3) Theo thỏa thuận của các bên; (4) Trường hợp khác theo quy định của luật.

1.2.3 Hiệu lực của quyền về lối đi

Điều 247 BLDS 2015 quy định quyền về lối đi có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, và được chuyển giao khi bất động sản được chuyển giao, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Theo đó, mọi cá nhân, pháp nhân đều phải tôn trọng quyền về lối đi của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc. Đồng thời, khi chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc có quyền về lối đi chuyển giao bất động sản của mình cho chủ thể khác thì cũng phải chuyển giao cả quyền về lối đi cho chủ thể đó. Ví dụ: A là chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc, có quyền về lối đi qua bất động sản của B. Sau đó, A chuyển nhượng bất động sản của mình cho C, đồng thời sẽ phải chuyển giao luôn quyền về lối đi cho C. Và B có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền về lối đi của C.

2. Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật quy định quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

2.1 Một số hạn chế, bất cập

Thứ nhất, về quy định lối đi thuận tiện và hợp lý. Điều 254 BLDS 2015 quy định việc mở lối đi sao cho thuận tiện và hợp lý nhất nhưng lại không có quy định hướng dẫn cụ thể lối đi như thế nào thì được coi là thuận tiện và hợp lý? Về giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao do các bên tự thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên. Tuy nhiên, chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền và chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền suy cho cùng là hai chủ thể khác nhau nên ý chí cũng khác nhau, có thể bên đây cho rằng giới hạn này là hợp lý nhưng bên kia lại cho rằng không hợp lý nên khó đạt được sự thỏa thuận, dẫn đến tranh chấp phát sinh, bởi vì luật không quy định tiêu chuẩn cụ thể về mức tối thiểu và mức tối đa của diện tích lối đi sao cho đảm bảo nhu cầu sử dụng của bên có bất động sản hưởng quyền và không gây phiền hà, bất lợi cho bên có bất động sản chịu hưởng quyền. Ví dụ: Bên A là bên có bất động sản hưởng quyền yêu cầu mở lối đi có chiều rộng 5m nhưng bên B là bên có bất động sản chịu hưởng quyền lại cho rằng chiều rộng như vậy là quá lớn, gây bất lợi cho việc khai thác, sử dụng bất động sản của mình, nên đề nghị chiều rộng 2m. Hai bên không thể thỏa thuận được về giới hạn dẫn đến tranh chấp phát sinh.
Hơn nữa, trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau thì sẽ có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định. Tuy nhiên, vì chưa có bất cứ văn bản nào hướng dẫn về định mức xác định giới hạn diện tích của lối đi dẫn đến việc các Thẩm phán hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác sẽ dựa vào ý chí chủ quan để xác định, có những trường hợp làm ảnh hưởng rất lớn đến quyền sở hữu của các bên.

Thứ hai, trường hợp lối đi không đủ. Điều 254 BLDS 2015 quy định trong trường hợp chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không đủ lối đi ra đường công cộng có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý. Vậy, lối đi như thế nào là lối đi không đủ? Dựa vào đâu để xác định? Thực tế việc xác định lối đi không đủ cũng là một vấn đề phức tạp và cần có hướng dẫn. Bởi lẽ, tùy theo vị trí, địa điểm, địa thế tự nhiên của bất động sản mà nhu cầu về lối đi cũng khác nhau. Ví dụ, ở thành thị đất chật người đông, các bất động sản chủ yếu san sát nhau, còn ở khu vực nông thôn đất rộng nhà thưa, các bất động sản nằm xa nhau nên nhu cầu về diện tích sử dụng lối đi cũng khác nhau; hoặc ở khu vực miền núi và đồng bằng, xuất phát từ sự khác nhau về địa hình, giữa địa hình cao và địa hình bằng phẳng.

Thứ ba, về vấn đề đền bù. Điều 254 BLDS 2015 quy định chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, tuy nhiên lại không quy định về phương thức đền bù, mức đền bù, thời hạn đền bù và trường hợp nếu không đền bù thì giải quyết như thế nào, có những chế tài gì hay không? Vì luật không có quy định cụ thể về thời hạn đền bù nên các bên có thể hiểu là có thể đền bù trước hoặc sau khi mở lối đi, giả sử trong trường hợp bên có bất động sản hưởng quyền họ đền bù cho bên có bất động sản chịu hưởng quyền trước khi mở lối đi nhưng sau khi nhận tiền đền bù thì bên có bất động sản chịu hưởng quyền lại không mở lối đi như đã thỏa thuận, trong trường hợp này sẽ xử lý, giải quyết như thế nào?

Mặt khác, hiện nay tồn tại song song hai loại giá đất là giá đất theo bảng giá của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và giá thị trường, hai loại giá này có sự chênh lệch rất rõ rệt. Tất nhiên, chủ thể nào cũng muốn giành phần lợi cho mình và do luật không có quy định cụ thể mức đền bù là áp dụng theo loại giá nào, vì vậy đứng trên góc độ chủ sở hữu của bất động sản chịu hưởng quyền sẽ yêu cầu được áp dụng giá thị trường còn chủ sở hữu của bất động sản hưởng quyền sẽ yêu cầu được áp dụng giá theo bảng giá của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Từ đó, dẫn đến xung đột về lợi ích phát sinh, các bên khó có thể đi đến thỏa thuận về mức đền bù thỏa đáng.

Thứ tư, về vấn đề thay đổi việc thực hiện quyền. Trên thực tế có những trường hợp chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền có nhu cầu thay đổi về kiến trúc, kết cấu, cơ sở hạ tầng đối với diện tích của bất động sản chịu hưởng quyền để phục vụ cho mục đích kinh doanh, có thêm lợi nhuận đảm bảo cho cuộc sống gia đình hoặc có trường hợp chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền có nhu cầu chia bất động sản thành nhiều phần khác nhau, trong đó có tính luôn phần bất động sản chịu hưởng quyền để chia thừa kế, tặng cho hoặc chuyển nhượng cho những chủ sở hữu khác,… Điều 249 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp có sự thay đổi về sử dụng, khai thác bất động sản chịu hưởng quyền dẫn đến thay đổi việc thực hiện quyền đối với bất động sản hưởng quyền thì chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền phải thông báo trước cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền trong một thời hạn hợp lý. Chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền phải tạo điều kiện thuận lợi cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền phù hợp với thay đổi này. ”. Quy định này còn chưa thật sự cụ thể, bởi lẽ với quy định này sẽ có trường hợp chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền thay đổi tùy ý, mặc dù việc thay đổi đó là không cần thiết, gây bất lợi cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền. Như vậy, trong trường hợp nếu sự thay đổi đó là không hợp lý thì bên có bất động sản chịu hưởng quyền có được thay đổi hay không? Hơn nữa, quy định là phải thông báo trong một thời hạn hợp lý nhưng lại không quy định cụ thể bao lâu là thời hạn hợp lý: một tháng, hai tháng hay sáu tháng?

Thứ năm, vấn đề trách nhiệm nếu không thông báo trước. Trong trường hợp chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền không thông báo trước cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền khi có sự thay đổi việc thực hiện quyền thì có phải chịu trách nhiệm gì hay không? Nếu không thông báo mà không gây thiệt hại hoặc không thông báo mà gây thiệt hại thì trường hợp nào phải chịu trách nhiệm hay cả hai trường hợp đều phải chịu trách nhiệm?

Thứ sáu, hiện nay có tình trạng một bất động sản bị vây bọc và không có lối ra đường đi công cộng (có thể mở lối đi ra 02 đường đi công cộng) cụ thể trong trường hợp một bất động sản bị vây bọc ở phía trước bởi một bất động sản, phía sau hai bất động sản, phía trước thông thương ra đường quốc lộ (phải mở lối đi đền bù giá trị cao và gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản vây bọc nhiều hơn), còn phía sau cũng thông thương ra được một con đường nhỏ (tuy nhiên phải mở lối đi qua hai chủ bất động sản nhưng giá trị quyền sử dụng đất thấp hơn). Trường hợp này, nếu chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản của người phía trước để thông ra quốc lộ thì sẽ dễ dàng hơn mở lối đi qua bất động sản của hai người phía sau, vì phải mở thông qua hai bất động sản. Vấn đề đặt ra là hiện nay quyền yêu cầu mở lối đi nên ưu tiên mở lối đi theo giá trị đền bù hay vị trí hợp lý? Điều 254 BLDS 2015 quy định lối đi phải được mở sao cho thuận tiện và hợp lý nhất? Nhưng lại không quy định rõ như thế nào là thuận tiện và hợp lý. Vậy trong trường hợp này sẽ xử lý như thế nào? Do đó, cần phải có văn bản hướng dẫn để giải quyết triệt để vấn đề này.

2.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể như thế nào là “lối đi thuận tiện, hợp lý” và “lối đi không đủ”, tạo cơ sở để các bên thỏa thuận được với nhau về giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi, hạn chế phát sinh tranh chấp hoặc nếu có tranh chấp xảy ra thì Thẩm phán cũng có đủ căn cứ pháp lý để xác định theo yêu cầu của đương sự, tránh trường hợp xác định theo ý chí chủ quan, ảnh hưởng đến quyền sở hữu của các bên. Đồng thời, cần quy định cụ thể căn cứ xác định lối đi không đủ cho từng khu vực: thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi.

Thứ hai, cần quy định cụ thể phương thức đền bù, mức đền bù, thời hạn đền bù và chế tài nếu không thực hiện việc đền bù.

Về phương thức đền bù, có thể đền bù bằng tiền hay bằng hiện vật? Theo ý kiến của tác giả nên quy định cụ thể phương thức đền bù là bằng hình thức trả tiền, như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể trong việc giao – nhận cũng như việc sử dụng khoản đền bù của bên được đền bù.
Về mức đền bù, hiện nay tồn tại song song hai loại giá là giá đất theo bảng giá của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và giá thị trường, tuy nhiên hai loại giá này có sự chênh lệch rất lớn, tác giả kiến nghị nên quy định cụ thể mức đền bù căn cứ vào giá thị trường, bởi lẽ chủ sở hữu của bất động sản chịu hưởng quyền khi mở lối đi cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền qua bất động sản của mình sẽ dẫn đến quyền sử dụng, khai thác bất động sản của họ bị hạn chế, quyền lợi bị ảnh hưởng, xét cho cùng họ vẫn là bên bị thiệt thòi nhiều hơn, vì vậy nếu áp dụng giá theo bảng giá của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ không đảm bảo được tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền.

Về thời hạn đền bù, tác giả kiến nghị quy định sau khi mở lối đi thì chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền sẽ đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, tránh tình trạng đền bù trước nhưng sau đó lối đi lại không được mở.

Về chế tài, nên quy định những chế tài cụ thể để áp dụng trong trường hợp chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền không thực hiện đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, nhằm ràng buộc nghĩa vụ của chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền và có cơ sở xử lý khi họ không đền bù, bảo đảm quyền lợi của bên có bất động sản chịu hưởng quyền.

Thứ ba, cần quy định cụ thể thời hạn hợp lý mà chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền phải thông báo cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền trong trường hợp có thay đổi về việc thực hiện quyền là trong khoảng thời gian bao lâu, bằng một con số cụ thể để nâng cao trách nhiệm của bên có bất động sản chịu hưởng quyền và tạo điều kiện thuận lợi cho bên có bất động sản hưởng quyền tìm cách thức thay thế, đảm bảo việc thực hiện quyền được liên tục.

Thứ tư, cần quy định cụ thể chế tài về trách nhiệm của chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền trong trường hợp không thông báo trước cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền nếu có thay đổi về việc thực hiện quyền, nhằm tăng khả năng thi hành của quy định này.

Thứ năm, tác giả kiến nghị cần ban hành văn bản hướng dẫn vấn đề quyền yêu cầu mở lối đi nên ưu tiên mở lối đi theo giá trị đền bù hay vị trí hợp lý? Điều 254 BLDS 2015 quy định lối đi phải được mở sao cho thuận tiện và hợp lý nhất? Do đó, cần phải có văn bản hướng dẫn để giải quyết triệt để vấn đề này nhằm đạt được sự thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Theo tác giả, cần xem xét ưu tiên mở lối đi theo mức đền bù với giá trị thấp và không gây thiệt hại cho các chủ sử dụng đất khác, phương án này là hợp lý nhất.

Kết luận: Quyền về lối đi qua là một quyền năng đặc biệt quan trọng. Thực tế, bất kì chủ thể nào cũng có nhu cầu sử dụng lối đi để thông thương ra đường công cộng, phục vụ cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, quyền yêu cầu mở lối của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc khi không có hoặc không đủ lối đi là một quyền dân sự rất thiết thực của người dân. BLDS 2015 đã có những sự thay đổi rõ rệt và tiến bộ về quy định quyền đối với bất động sản liền kề, trong đó có quyền về lối đi. Tuy nhiên, vẫn có một số điểm bất cập còn tồn tại, gây khó khăn cho các bên chủ thể cũng như việc xử lý, giải quyết tranh chấp trên thực tế của Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác. Vì vậy, những vấn đề bất cập cần được sửa đổi bằng những quy định cụ thể hơn để khắc phục những vướng mắc nhằm có những hướng giải quyết thấu đáo cho các tranh chấp phát sinh.

1.PGS.TS Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm 2015, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 260.

Tin liên quan