ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HỒ CHÍ MINH
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TRẦN LUẬT
(TRAN LUAT LAW OFFICE)

Trụ sở chính: 129 Dương Quảng Hàm, P.7, Q. Gò Vấp, TP.HCM
Chi nhánh 1 - tỉnh Bình Dương: 600 Lê Hồng Phong, phường Phú Hòa, Tp Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Chi nhánh 2 - tỉnh Bình Dương: Đường ĐT 741, khu phố An Hòa, TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương
ĐT: (08) 22144773
 Tran Luat Law Office

HOTLINE

0971.777.433

Một số nội dung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự năm 2015

Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong Bộ luật dân sự nước ta từ năm 1995 và tiếp tục được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005. Ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật dân sự năm 2015 (Luật số 91/2015/QH13, có hiệu lực từ ngày 1/1/2017) để thay thế Bộ luật dân sự năm 2005. Đây là Bộ luật lớn nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam với 6 phần, 27 chương, 689 điều (giảm 88 điều so với Bộ luật dân sự năm 2005). Trong đó, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có khá nhiều điểm mới. Tiếp nối một số nghiên cứu đã được công bố, tác giả tiếp tục phân tích, đánh giá một số nội dung liên quan đến chế định này.

1. Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
“1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”.
Về nguyên tắc thứ nhất: Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Cần phải tôn trọng thỏa thuận của các bên về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì khi giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần chú ý:
– Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, có nghĩa là khi có yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm phải căn cứ vào các điều luật tương ứng của Bộ Luật Dân sự quy định trong trường hợp cụ thể đó thiệt hại bao gồm những khoản nào và thiệt hại đã xảy ra là bao nhiêu, mức độ lỗi của các bên để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản thiệt hại tương xứng đó.
– Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Tòa án phải giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định. Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự.
Về nguyên tắc thứ hai: Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ hai điều kiện sau đây: Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại; Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại, có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng như về lâu dài họ không thể có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó.
Về nguyên tắc thứ ba: Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế, có nghĩa là do có sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả mà mức bồi thường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện đó hoặc do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại cho nên mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với sự thay đổi đó hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại…
Về nguyên tắc thứ tư: Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Đây là nguyên tắc không được quy định tại Điều 605 của Bộ luật dân sự năm 2005.
Về nguyên tắc thứ năm: Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình. Đây cũng là nguyên tắc không được quy định tại Điều 605 của Bộ luật dân sự năm 2005.
Qua tìm hiểu nội dung các nguyên tắc trên cho thấy:
Thứ nhất, nêu rõ về “thiệt hại thực tế”. Trong Bộ luật dân sự năm 2005, nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định: “Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Sự thay đổi này cho thấy chỉ những thiệt hại thực tế mới được bồi thường. Những thiệt hại do suy đoán hoặc không có căn cứ xác định thì không được bồi thường.
Thứ hai, về việc giảm mức bồi thường:
– Theo Bộ luật dân sự năm 2005, người được giảm mức bồi thường là “người gây thiệt hại”. Tuy nhiên, theo Bộ luật dân sự năm 2015, người được giảm mức bồi thường được xác định là “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại” (khoản 2 Điều 585). Sự thay đổi này là phù hợp, vì trong nhiều trường hợp người phải bồi thường thiệt hại không phải là người gây thiệt hại. Hơn nữa, nếu theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, nhiều người sẽ cho rằng chỉ những người nào trực tiếp gây thiệt hại mà phải bồi thường thì mới có thể được giảm mức bồi thường, còn những người không gây thiệt hại nhưng phải bồi thường (ví dụ cha mẹ bồi thường thiệt hại do con dưới 15 tuổi gây ra) thì không được giảm mức bồi thường.
– Theo Bộ luật dân sự năm 2005, chỉ những người có “lỗi vô ý” mới được giảm mức bồi thường, nhưng theo Bộ luật dân sự năm 2015, người được giảm mức bồi thường có thể là “người không có lỗi” hoặc “có lỗi vô ý” (khoản 2, Điều 585). Sự thay đổi này là hoàn toàn phù hợp, vì quy định như Bộ luật dân sự năm 2005 là không phù hợp, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc giảm mức bồi thường trong trường hợp người chịu trách nhiệm bồi thường nhưng “không có lỗi”.
Thứ ba, Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung thêm hai nguyên tắc bồi thường thiệt hại:
– Nguyên tắc “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra” (khoản 4 Điều 585). Đây không phải là quy định mới xuất hiện trong Bộ luật dân sự năm 2015, mà quy định này đã được đề cập trong Bộ luật dân sự năm 2005. Tuy nhiên, điểm mới thể hiện ở chỗ, trong Bộ luật dân sự năm 2005, quy định này được coi là một trong các trường hợp bồi thường cụ thể và thuộc nội dung của Mục 3. Đối với Bộ luật dân sự năm 2015, thì đây lại là một nguyên tắc bồi thường thiệt hại. Điểm mới này là hoàn toàn phù hợp, vì quy định này có thể áp dụng chung cho mọi trường hợp bồi thường thiệt hại trên thực tế.
– Nguyên tắc “Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình” (khoản 5 Điều 585). Đây là nguyên tắc bồi thường thiệt hại mới của Bộ luật dân sự năm 2015. Điểm mới này là một sự tiến bộ so với Bộ luật dân sự năm 2005, cụ thể hóa một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 là: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực”.
2. Về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
Quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân trong Bộ luật dân sự năm 2015 có hai điểm mới so với Bộ luật dân sự năm 2005, cụ thể:
Thứ nhất, cụm từ “người chưa thành niên dưới 15 tuổi” trong Bộ luật dân sự năm 2005 được thay đổi thành bằng cụm từ “người chưa đủ 15 tuổi” trong Bộ luật dân sự năm 2015 (khoản 2, Điều 586). Sự thay đổi này là hợp lý, vì người chưa đủ 15 tuổi đương nhiên được hiểu là người “chưa thành niên” nên việc quy định cụm từ như trong Bộ luật dân sự năm 2005 là thừa. Hơn nữa, Bộ luật dân sự năm 2015 sử dụng cụm từ “chưa đủ 15 tuổi” thay vì cụm từ “dưới 15 tuổi” cũng hợp lý, bởi vì quy định như trong Bộ luật dân sự năm 2005 sẽ có thể dẫn đến cách hiểu rằng người dưới 15 tuổi là người từ đủ 14 tuổi trở xuống, và sẽ không bao gồm người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi.
Thứ hai, Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung thêm quy định về xác định năng lực bồi thường thiệt hại của “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” (khoản 3, Điều 586). Sự bổ sung này là hệ quả tất yếu của việc bổ sung quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi trong nội dung chế định cá nhân của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về vấn đề liên đới bồi thường thiệt hại
Trong Bộ luật dân sự năm 2015, vấn đề liên đới bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 587. Tuy nhiên, theo tinh thần của Điều 587, vấn đề bồi thường liên đới chỉ đặt ra đối với trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại, tức là thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra. Đối với trường hợp tài sản gây thiệt hại, vấn đề liên đới bồi thường hiện nay chỉ được quy định trong trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ hoặc do súc vật gây. Nếu theo quy định như trong Bộ luật dân sự năm 2015, mà trong trường hợp các loại tài sản khác gây thiệt hại, nhiều chủ thể cùng có lỗi, việc xác định trách nhiệm liên đới phải dựa vào nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật.
4. Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
Trong Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 3 năm (Điều 588) thay vì quy định 2 năm như trong Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 607). Sự thay đổi này là phù hợp với một số quy định có liên quan (ví dụ thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế[1]). Bên cạnh đó, việc kéo dài thời hiệu khởi kiện này cũng góp phần khắc phục bất cập trong thực tiễn thi hành thời gian qua (ví dụ như trong lĩnh vực ô nhiễm môi trường như đã nêu ở phần trên). Bên cạnh đó, thời điểm tính thời hiệu khởi kiện về bồi thường thiệt hại cũng có sự thay đổi. Theo quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005, thời điểm đó là “thời điểm quyền và lợi ích bị xâm phạm”. Theo quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015, thời điểm đó là thời điểm “biết hoặc buộc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm”. Sự thay đổi này là phù hợp, bởi vì không phải trường hợp này người có quyền yêu cầu cũng có thể biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm ở thời điểm nào. Do đó, nếu quy định như Bộ luật dân sự năm 2005, rất nhiều trường hợp khi người có quyền yêu cầu biết hoặc buộc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì thời hiệu khởi kiện có thể đã hết.
5. Về xác định thiệt hại
5.1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Quy định về “tài sản bị mất”, “tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng” của Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015 được đặt trong cùng một khoản thay vì đặt trong hai khoản khác nhau như trong Bộ luật dân sự năm 2005. Quy định này là hợp lý, bởi vì về bản chất, hai loại thiệt hại này đều là những thiệt hại trực tiếp do tài sản bị xâm phạm, nên việc tách ra là không cần thiết. Hơn nữa, việc tách hai loại thiệt hại này ra hai khoản khác nhau sẽ có thể dẫn đến cách hiểu rằng những thiệt hại này độc lập với nhau, và khi xác định tính toán tất cả những thiệt hại này. Tuy nhiên, khi thiệt hại được biểu hiện dưới dạng “bị mất” thì chỉ tính giá trị của tài sản bị mất chứ không thể tính tiếp giá trị của thiệt hại về “tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng”.
Bộ luật dân sự năm 2015 cũng bổ sung thêm quy định về “thiệt hại khác do luật quy định”. Quy định này cũng hợp lý, bởi vì khi tài sản bị xâm phạm có thể chủ sở hữu sẽ mất đi những lợi ích mà lẽ ra họ sẽ được hưởng. Do đó, việc liệt kê theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 sẽ không bao quát đầy đủ các thiệt hại mà chủ sở hữu phải gánh chịu khi tài sản bị xâm phạm. Ví dụ, một con trâu đang có mang đến tháng thứ 9 bị ô tô lao chết thì khi xác định thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, không thể tính đến giá trị của “con nghé sắp được sinh ra”. Đây rõ ràng là một lợi ích mà lẽ ra chủ sở hữu con trâu sẽ được hưởng nếu con trâu không bị gây thiệt hại. Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, giá trị của con nghé có thể cũng được xác định là một trong những loại thiệt hại khác do pháp luật quy định khi tính toán mức bồi thường[2].
5.2. Về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
Quy định về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm trong Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 có những thay đổi so với Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:
Thứ nhất, bổ sung thêm điểm d khoản 1 với nội dung “thiệt hại khác do luật quy định”. Việc bổ sung quy định này là hoàn toàn hợp lý, bởi vì trên thực tế khi cá nhân bị xâm phạm sức khỏe, ngoài những thiệt hại mà cá nhân phải gánh chịu như Bộ luật dân sự năm 2005 liệt kê thì họ còn có thể bị mất đi những lợi ích khác. Ví dụ, A đã ký hợp đồng khoán việc với thời hạn 1 tháng và mức thù lao 30 triệu. Tuy nhiên, A đã bị xâm phạm sức khỏe trước khi bắt đầu làm việc 1 ngày, khiến cho A không thể làm được công việc đó và mất đi khoản thu nhập mà lẽ ra có được.
Thứ hai, sử dụng cụm từ “người chịu trách nhiệm bồi thường” thay cho cụm từ “người xâm phạm sức khỏe của người khác” trong Bộ luật dân sự năm 2005. Sự thay đổi này hoàn toàn hợp lý, bởi vì thực tế không phải mọi trường hợp người xâm phạm sức khỏe của người khác đều phải chịu trách nhiệm bồi thường. Có rất nhiều trường hợp, người phải bồi thường không phải là người đã gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác. Ví dụ, bố mẹ bồi thường thiệt hại do con dưới 15 tuổi gây ra, pháp nhân bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra,…
Thứ ba, xác định rõ mức bù đắp tổn thất về tinh thần nếu không thỏa thuận thì áp dụng cho từng người bị xâm phạm sức khỏe. Đây là một quy định mới và rõ ràng hơn Bộ luật dân sự năm 2005. Tuy nhiên, dường như quy định này là không cần thiết, bởi vì người bị tổn thất tinh thần trong trường hợp này chính là người bị xâm phạm sức khỏe. Đồng thời, mỗi người bị xâm phạm sức khỏe luôn độc lập với nhau trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó mức bù đắp tổn thất về tinh thần cũng đương nhiên được xác định một cách độc lập cho từng người.
Thứ tư, mức bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp các bên không có thỏa thuận được xác định tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở. Bộ luật dân sự năm 2005 sử dụng lương tối thiểu làm căn cứ để tính mức bù đắp về tinh thần. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2015 sử dụng mức lương cơ sở. Sự thay đổi của Bộ luật dân sự năm 2015 cũng hoàn toàn hợp lý, bởi vì thực tế giải quyết tranh chấp, các tòa vẫn áp dụng mức lương cơ sở để xác định mức bù đắp tổn thất về tinh thần. Hơn nữa, mức lương tối thiểu được quy định ở các cùng khác nhau là khác nhau. Do đó, những người bị gây thiệt hại sức khỏe như nhau thuộc các vùng khác nhau mà mức bù đắp tổn thất về tinh thần lại khác nhau là không công bằng.
Một điểm mới trong việc xác định mức bù đắp tổn thất về tinh thần đó là, thay vì xác định mức tối đa khi không thỏa thuận là 30 tháng lương tối thiểu như Bộ luật dân sự năm 2005, thì Bộ luật dân sự năm 2015 quy định mức tối đa là 50 lần lương cơ sở[3]. Việc tăng mức tiền bồi thường là phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội khi mà ý nghĩa cuộc sống tinh thần ngày càng được chú trọng.
5.3. Về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Trong Bộ luật dân sự năm 2005, chỉ những chi phí cho việc “cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại” trước khi chết mới được bồi thường. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này” (điểm a, khoản 1, Điều 591), tức là theo quy định này, nếu người bị xâm phạm tính mạng chưa chết ngay thì mức bồi thường sẽ bao gồm cả bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Sự thay đổi này là hợp lý, bởi vì trong thời gian điều trị người bị thiệt hại mất thu nhập, hoặc phải có người chăm sóc, hoặc bị ảnh hưởng về tinh thần,… Do đó, những khoản thiệt hại này là để bồi thường cho chính người bị xâm phạm sức khỏe, còn những khoản bồi thường sau là bồi thường cho người thân thích của người chết.
Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng có những quy định về bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm tương tự như khi sức khỏe bị xâm phạm như: Bổ sung quy định “thiệt hại khác do pháp luật quy định”; Sửa quy định “người xâm phạm tính mạng của người khác” thành “người chịu trách nhiệm bồi thường”; Mức bù đắp tổn thất về tinh thần nếu không thỏa thuận thì được xác định tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở và áp dụng cho mỗi người có tính mạng bị xâm phạm.
Tất cả những thay đổi này đều hợp lý. Đặc biệt, quy định về mức bù đắp tổn thất tinh thần được áp dụng cho mỗi người có tính mạng bị xâm phạm là rõ ràng và rất cần thiết. Trong trường hợp này, người được bù đắp tổn thất về tinh thần không phải là người bị xâm phạm tính mạng mà là người thân thích của họ. Có thể có nhiều người bị xâm phạm tính mạng nhưng chỉ có một người thân thích. Trên thực tế, nhiều trường hợp đã xảy ra mâu thuẫn giữa những người có thẩm quyền với nhau trong việc xác định mức bù đắp tổn thất về tinh thần chỉ tính một lần với tất cả những người bị xâm phạm tính mạng hay tính riêng với từng người[4]. Sự bổ sung quy định này đã giải quyết được những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.
5.4. Về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Bộ luật dân sự năm 2015 đã bỏ quy định về chủ thể bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín. Điều này là hợp lý bởi vì việc liệt kê này là không cần thiết. Bất kỳ chủ thể nào chứng minh được danh dự, nhân phẩm, hoặc uy tín của mình xâm phạm thì đều có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự năm 2015 cũng có những sự điều chỉnh tương tự như đối với trường hợp sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm như: bổ sung thiệt hại khác do pháp luật quy định; cơ sở để tính mức bù đắp tổn thất về tinh thần là lương cơ sở chứ không phải lương tối thiểu như Bộ luật dân sự năm 2005; mức bù đắp tổn thất về tinh thần được xác định đối với mỗi người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Những phân tích liên quan đến sự hợp lý của những quy định này cũng tương tự như đã phân tích ở phần trên. Tuy nhiên, có một điểm không hợp lý đó là không cần thiết phải xác định mức bù đắp tổn thất về tinh thần áp dụng cho mỗi người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Bởi vì, người bị tổn thất tinh thần trong trường hợp này chính là người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín. Đồng thời, mỗi người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín luôn độc lập với nhau trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó mức bù đắp tổn thất về tinh thần cũng đương nhiên được xác định một cách độc lập cho từng người.
5.5. Về thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm
Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định liên quan đến việc xác định thời điểm được hưởng bồi thường thiệt hại, cụ thể như: thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động; thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết; thời điểm sinh ra và còn sống đối với con đã thành thai. Sự bổ sung này là rõ ràng và hợp lý. Điều này sẽ giúp các Tòa có căn cứ để xác định mức bồi thường cũng như thời hạn hưởng bồi thường một cách cụ thể và chính xác. Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung quy định cho phép các bên được thỏa thuận về thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại khi sức khỏe bị xâm phạm. Đây cũng là quy định phù hợp với một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”.
6. Về các trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể
Mục này được Bộ luật dân sự năm 2015 quy định từ Điều 594 đến Điều 608 bao gồm 15 trường hợp. Trong đó:
– Trường hợp bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá phòng vệ chính đáng (Điều 594) không có sửa đổi so với Bộ luật dân sự năm 2005.
– Một số trường hợp cụ thể của Bộ luật dân sự năm 2005 được chuyển lên phần quy định chung về bồi thường thiệt hại của Bộ luật dân sự năm 2015: Trường hợp bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra (trước đây được quy định tại Điều 616 Bộ luật dân sự năm 2005) được chuyển lên thành một trong những quy định chung về bồi thường thiệt hại và được áp dụng cho mọi trường hợp cụ thể mà có nhiều người cùng gây ra (Điều 587 Bộ luật dân sự năm 2015); Trường hợp bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi (Điều 617 Bộ luật dân sự năm 2005) được chuyển lên phần quy định chung của Bộ luật dân sự năm 2015 và được ghi nhận trong hai điều với những phần khác nhau. Theo đó, một phần được ghi nhận trong khoản 2 Điều 584 như một trong các căn cứ loại trừ trách nhiệm của người gây thiệt hại (người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi thì người gây thiệt hại không phải bồi thường). Phần khác được ghi nhận trong khoản 4 Điều 585 như một trong những nguyên tắc bồi thường thiệt hại (khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra).
– Các trường hợp còn lại đã có sửa đổi cụ thể:
+ Bồi thường thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (Điều 595): Bỏ khoản 1 của Điều 614 Bộ luật dân sự năm 2005 “Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.” Điều này là hợp lý vì bản thân Điều luật này quy định về bồi thường thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, cho nên nếu gây thiệt hại trong phạm vi yêu cầu của tình thế cấp thiết thì đương nhiên không phải bồi thường.
+ Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra (Điều 598): Đây là một quy định mới về hình thức thể hiện và nội dung điều chỉnh. Điều 598 Bộ luật dân sự năm 2015 đã gộp hai quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra (Điều 619 Bộ luật dân sự năm 2005) và bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (Điều 620 Bộ luật dân sự năm 2005). Bộ luật dân sự năm 2015 xác định chủ thể phải bồi thường thiệt hại là Nhà nước chứ không phải cơ quan quản lý cán bộ, công chức hay cơ quan tiến hành tố tụng; xác định rõ luật áp dụng để giải quyết là Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[5] chứ không phải Bộ luật dân sự.
+ Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra (Điều 600): Điều 600 Bộ luật dân sự năm 2015 đã bỏ cụm từ “và các chủ thể khác” khi xác định người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra. Điều này cho thấy Bộ luật dân sự chỉ điều chỉnh vấn đề bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề của cá nhân, pháp nhân. Đối với các trường hợp người làm công, người học nghề do các chủ thể khác sử dụng mà gây thiệt hại thì không áp dụng quy định này, nhưng rõ ràng cũng không có quy định nào phù hợp để áp dụng đối với các trường hợp này.
+ Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (Điều 601): Khoản 2 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung thêm một nội dung trong nghĩa vụ của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đó là ngoài việc tuân thủ quy định pháp luật về “bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ” như trong Bộ luật dân sự năm 2005, thì còn phải tuân thủ quy định pháp luật liên quan đến việc “vận hành” nguồn nguy hiểm cao độ. Trong khoản 3 và khoản 4 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, cụm từ “người chiếm hữu, sử dụng” được dùng thay cho cụm từ “người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng”. Việc sử dụng cụm từ “người chiếm hữu, sử dụng” mặc dù bao quát được cả các chủ thể chiếm hữu, sử dụng có căn cứ pháp luật khác mà không bao gồm chủ sở hữu và người được chủ sở hữu chuyển giao.
Có thể hiểu nguồn nguy hiểm cao độ là những vật chất nhất định do pháp luật quy định luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho con người, con người không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối[6]. Theo quy định hiện hành, nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định (khoản 1, Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015). Như vậy, khi có phương tiện giao thông, công trình, vật chất hoặc loại thú nào đó gây ra thiệt hại, để có căn cứ áp dụng các khoản 2, 3 và 4 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 thì phải xác định nguồn gây ra thiệt hại có phải là nguồn nguy hiểm cao độ hay không. Để xác định nguồn nguy hiểm cao độ cần phải căn cứ vào khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan hoặc quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực cụ thể đó. Có thể liệt kê cụ thể một số nguồn nguy hiểm cao độ như sau:
+) Phương tiện giao thông vận tải cơ giới: hiện chưa có quy định pháp luật nào chính thức đưa ra định nghĩa cho khái niệm này. Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định phương tiện giao thông cơ giới đường bộ bao gồm: xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự (khoản 18, Điều 3). Như vậy, bên cạnh đó sẽ có phương tiện giao thông cơ giới đường sắt, đường thủy,…
+) Hệ thống tải điện: được hiểu là dây truyền dẫn điện, mô tơ, máy phát điện… Có thể xem các quy định về quản lý hệ thống điện truyền tải trong Thông tư số 25/2016/TT-BCT ngày 30-11-2016 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định hệ thống điện truyền tải.
+) Vũ khí, chất nổ: Vũ khí gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự (khoản 1, Điều 3 Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011). Vật liệu nổ gồm thuốc nổ và các phụ kiện nổ (khoản 6, Điều 3 Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2011).
+ Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra (Điều 603):
Trong thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội của con người, súc vật đã trở thành sản phẩm chăn nuôi hoặc thú nuôi phổ biến trong nhà của con người, như trâu, bò, lợn… bản chất súc vật là động vật hoang dã, mang bản tính thú dữ đã được con người thuần hóa, kiểm soát được hoạt động và tuân thủ theo sự quản lý của con người. Tuy nhiên, trên thực tế xuất phát từ bản tính tự nhiên hoặc do lỗi quản lý của con người, mà khi hoạt động súc vật có thể gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng hoặc người thứ ba khi họ có lỗi để súc vật gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho cá nhân hoặc các tổ chức khác.
Đặc điểm pháp lý của loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại này là phát sinh theo qui định của pháp luật và là hậu quả pháp lý nằm ngoài mong muốn của chủ thể (chủ sở hữu súc vật, người chiếm hữu, người sử dụng súc vật, người thứ ba và bên bị thiệt hại) mà không có sự thỏa thuận trước giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại, đồng thời bên gây thiệt hại có lỗi. Khác với các trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác, chủ sở hữu súc vật, người chiếm hữu, sử dụng súc vật, người thứ ba gây thiệt hại không trực tiếp bằng hành vi của mình mà lại thông qua hoạt động của súc vật và họ bị suy đoán là có lỗi trong quản lý hoạt động của chúng.
Xuất phát từ việc gây thiệt hại của gia súc do tác động bởi các yếu tố khác nhau và đa dạng mà việc xác định lỗi trong trường hợp này là rất khó và có thể không bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Do vậy, việc suy đoán lỗi đối với chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật hoặc người thứ ba khi súc vật gây thiệt hại là cần thiết, qua đó nâng cao trách nhiệm quản lý của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật.
Bộ luật dân sự năm 2015 đã bỏ quy định “nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường”. Thực chất quy định này đã được lồng ghép vào quy định tại khoản 2 Điều 584 về căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường, trong đó cũng có căn cứ đó là “hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại”. Do vậy, việc loại bỏ quy định này là hoàn toàn phù hợp, tránh trùng lặp giữa các quy định. Bộ luật dân sự năm 2015 cũng đã bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, người sử dụng súc vật tại khoản 1 Điều 603: “Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Quy định này hoàn toàn phù hợp, bởi vì người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng  súc vật là người có quyền nhất định đối với súc vật đó (thông thường đó là người được khai thác công dụng của súc vật, hoặc người được hưởng một chi phí nhất định để quản lý súc vật), nên phải bồi thường thiệt hại do súc vật đó gây ra. Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định liên quan đến trách nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật khi súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật: “khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại” (khoản 3 Điều 603). Việc bổ sung quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật trong việc quản lý súc vật. Do đó, nếu không quản lý tốt súc vật thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải chịu trách nhiệm về việc quản lý của mình.
Về nguyên tắc, chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (khoản 1 Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại (khoản 2 Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại (khoản 3 Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội (khoản 4 Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015).
+ Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra (Điều 604): Ngoài trách nhiệm của chủ sở hữu (Điều 626 Bộ luật dân sự năm 2005) thì Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường của người chiếm hữu, người được giao quản lý cây cối. Đây là quy định nhằm xác định trách nhiệm của người chiếm hữu, quản lý cây cối khi cây cối gây ra thiệt hại. Bộ luật dân sự năm 2015 cũng mở rộng phạm vi các trường hợp cây cối gây thiệt hại mà phát sinh trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người quản lý cây cối. Theo Bộ luật dân sự năm 2005, chỉ khi cây cối đổ, gẫy mà gây thiệt hại mới phát sinh trách nhiệm bồi thường (Điều 626). Các trường hợp cây cối gây thiệt hại mà không do đổ, gẫy thì không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Điều 626). Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự năm 2015 đã không còn quy định hai trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường do cây cối gây ra (hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại và bất khả kháng). Tuy nhiên, những căn cứ này đã được quy định chung cho mọi trường hợp tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra (Điều 605): Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung một chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại đó là “người chiếm hữu”. Điều này cũng mở rộng phạm vi các trường hợp bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Theo đó, tất cả các trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì đều phát sinh trách nhiệm bồi thường nếu đủ các điều kiện. Bên cạnh đó, hai căn cứ loại trừ cũng được bỏ đi là “hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại” và “sự kiện bất khả kháng”. Những quy định này đã được đề cập trong khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 và áp dụng cho mọi trường hợp. Bộ luật dân sự năm 2015 cũng bổ sung quy định liên quan đến trách nhiệm của người thi công: “Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này trên thực tế đòi hỏi phải thật chính xác, bởi vì sẽ dễ bị nhầm lẫn giữa trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại với hành vi thi công nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra thiệt hại[7].
+ Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể (Điều 606): Bộ luật dân sự năm 2015 giới hạn các chủ thể xâm phạm thi thể chỉ gồm cá nhân, pháp nhân, trong khi đó Bộ luật dân sự năm 2005 còn xác định thêm cả các chủ thể khác ngoài cá nhân và pháp nhân. Khái niệm “người xâm phạm thi thể” được thay bằng khái niệm “người chịu trách nhiệm bồi thường” khi xác định chủ thể phải bù đắp về tinh thần. Sự thay đổi này là phù hợp, bởi vì không phải trường hợp nào người xâm phạm thi thể cũng phải tự bồi thường. Bên cạnh đó, việc xác định mức bù đắp tổn thất về tinh thần và căn cứ để xác định cũng được thay đổi. Theo đó, mức bù đắp sẽ áp dụng cho mỗi thi thể bị xâm phạm (Bộ luật dân sự năm 2005 không quy định rõ vấn đề này) và căn cứ để tính là lương cơ sở chứ không phải lương tối thiểu như Bộ luật dân sự năm 2005.
+ Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả (Điều 607): Bộ luật dân sự năm 2015 có hai sự thay đổi so với Bộ luật dân sự năm 2005: Một là, chỉ xác định cá nhân và pháp nhân là chủ thể xâm phạm mồ mả; Hai là, bổ sung quy định liên quan đến bù đắp tổn thất về tinh thần khi xâm phạm mồ mả là 10 lần mức lương cơ sở cho mỗi mồ mả bị xâm phạm.[8]
+ Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng (Điều 608): Trong Bộ luật dân sự năm 2015, chủ thể vi phạm quyền lợi người tiêu dùng chỉ có thể là cá nhân và pháp nhân (trong Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2005 còn bao gồm các chủ thể khác). Ngoài ra, trong Bộ luật dân sự năm 2015, hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng có thể áp dụng với cả trường hợp kinh doanh hàng hóa và dịch vụ (trong Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ đề cập đến hàng hóa).
7. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài  là các quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố chủ thể là người nước ngoài, đối tượng của quan hệ là tài sản ở nước ngoài hoặc sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra tại nước ngoài. Do có yếu tố nước ngoài mà quan hệ dân sự thuộc loại này có khả năng chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, khiến cho việc giải quyết các vấn đề pháp lý trong quan hệ giữa các bên trở nên phức tạp, nhất là khi các hệ thống pháp luật có cách tiếp cận và quy định cụ thể thường rất khác nhau. Vì vậy, pháp luật các nước hầu hết đều có các quy định đặc biệt đưa ra các nguyên tắc để lựa chọn và áp dụng một hệ thống pháp luật với một quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài cụ thể (quy phạm xung đột).
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế được hiểu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài, có nghĩa là: các bên chủ thể bao gồm bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có quốc tịch khác nhau hoặc nơi cư trú khác nhau (đối với cá nhân) hoặc có trụ sở ở các nước khác nhau (đối với pháp nhân); hay hành vi gây thiệt hại hoặc hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại xảy ra ở nước ngoài.[9]
Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong hệ thống các chế định của pháp luật dân sự Việt Nam cũng như các quốc gia khác. Sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật trên thế giới về vấn đề này đã làm phát sinh xung đột pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định để giải quyết vấn đề này để bảo vệ lợi ích cho các bên liên quan. Bộ luật dân sự năm 2015 cũng có điểm mới khá cơ bản trong việc xác định pháp luật trong trường hợp nêu trên (quy định trong Phần thứ năm của Bộ luật dân sự năm 2015).
Theo Bộ luật dân sự năm 2015, khi đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì các bên được lựa chọn luật áp dụng (khoản 1 Điều 687), trừ trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 687 Bộ luật dân sự năm 2015 (cả hai bên cư trú/thành lập ở cùng một nước thì đương nhiên pháp luật của nước đó được áp dụng). Đây là một trong những điểm mới cơ bản trong Bộ luật dân sự năm 2015 khi quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Trong khi đó, khoản 1 Điều 773 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại. Cách quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 có điểm hạn chế là không phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật dân sự là tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Quy định của Điều 687 Bộ luật dân sự năm 2015 đã khắc phục hạn chế trên cũng như đảm bảo tương thích với tư pháp quốc tế trên thế giới.
Như vậy, Điều 687 đã quy định nguyên tắc chung trong việc giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là các bên được lựa chọn luật áp dụng; đồng thời dự liệu trường hợp các bên không có thỏa thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng. Ngoại lệ được quy định tại khoản 2 Điều 687 Bộ luật dân sự năm 2015 nhằm tạo điều kiện cho việc bồi thường thiệt hại diễn ra nhanh chóng, kịp thời và phù hợp với tư pháp quốc tế của nhiều nước trên thế giới./.

TS. Trương Hồng Quang
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
 


[1] Xem: Khoản 3, Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Xem: Nguyễn Văn Hợi, Lê Thị Hải Yến, Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội thảo “Bình luận một số điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015”, Trường Đại học Luật Hà Nội, ngày 15/6/2016.
[3] Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa thực sự rõ ràng bởi vì vẫn chưa đưa ra căn cứ cụ thể áp dụng với từng trường hợp cụ thể (ví dụ: mức tối thiểu là bao nhiêu, căn cứ để áp dụng mức bù đắp bằng 10, 20 hay 30 lần … mức lương cơ sở là gì).
[4] Xem: Nguyễn Văn Hợi, Lê Thị Hải Yến, Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội thảo “Bình luận một số điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015”, Trường Đại học Luật Hà Nội, ngày 15-6-2016.
[5] Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017.
[6] Theo tác giả Lê Đình Nghị. Xem: Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độhttps://luatduonggia.vn/khai-niem-nguon-nguy-hiem-cao-do, truy cập ngày 10-3-2017.
[7] Xem: Nguyễn Văn Hợi, Lê Thị Hải Yến, Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội thảo “Bình luận một số điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015”, Trường Đại học Luật Hà Nội, ngày 15/6/2016.
[8] Cũng cần lưu ý là những hành vi sau đây không bị coi là xâm phạm mồ mả và không phải bồi thường: những hành vi của cơ quan chức năng có thẩm quyền theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền như khai quật mộ để khám nghiệm tử thi, đưa mộ liệt sỹ về nghĩa trang liệt sỹ…
TS. Trương Hồng Quang
Nguồn: Viện khoa học pháp lý , bộ tư pháp (https://khpl.moj.gov.vn)

Tin liên quan