ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HỒ CHÍ MINH
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TRẦN LUẬT
(TRAN LUAT LAW OFFICE)

Trụ sở chính: 129 Dương Quảng Hàm, P.7, Q. Gò Vấp, TP.HCM
Chi nhánh 1 - tỉnh Bình Dương: 600 Lê Hồng Phong, phường Phú Hòa, Tp Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Chi nhánh 2 - tỉnh Bình Dương: Đường ĐT 741, khu phố An Hòa, TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương
ĐT: (08) 22144773
 Tran Luat Law Office

HOTLINE

0971.777.433

Hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi hợp đồng tín dụng tại ngân hàng thương mại

Hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng thương mại là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Trong thời gian qua, do chưa có sự nhận thức đầy đủ cũng như các quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng còn có một số hạn chế, vướng mắc, vì vậy, các tranh chấp về hợp đồng tín dụng không ngừng gia tăng. Các dạng tranh chấp phổ biến, chiếm tỷ lệ lớn nhất là tranh chấp về việc vi phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong hợp đồng, cũng có thể xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ trả lãi và thậm chí cả gốc và lãi…; về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng hoặc các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm. Vì vậy, để hạn chế các tranh chấp phát sinh, yêu cầu đặt ra là phải hoàn thiện các quy định pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng, đồng thời, nâng cao nhận thức pháp luật cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng tín dụng.
1. Thực trạng pháp luật hiện hành về hợp đồng tín dụng
1.1. Chủ thể của hợp đồng tín dụng
Quan hệ tín dụng ngân hàng thực chất là quan hệ vay mượn vốn giữa các tổ chức tín dụng với các tổ chức, cá nhân trong đời sống xã hội. Do đó, chủ thể bên cho vay là các tổ chức tín dụng, bên đi vay (khách hàng) là tổ chức, cá nhân thỏa mãn các quy định của pháp luật[1]. Như vậy, các tổ chức không phải là pháp nhân (ví dụ như hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân) không đủ tư cách chủ thể vay vốn tại tổ chức tín dụng. Quy định này dựa trên tiêu chí chủ thể của quan hệ tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 là pháp nhân và cá nhân.
Khách hàng trong hợp đồng tín dụng ngoài những điều kiện chung vè năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định của Bộ luật Dân sự, thì cần phải có điều kiện phải có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết[2]. Điều này nhằm mục đích thu hồi vốn vay cả gốc và lãi của tổ chức tín dụng. Để đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, các tổ chức tín dụng phải có trách nhiệm xác minh điều kiên vay của khách hàng, phân tích rủi ro có thể xảy ra.Nếu khách hàng không đảm bảo được khả năng trả nợ trong thời hạn cam kết thì sẽ không được xét duyệt hồ sơ cho vay.
Về đối tượng vay vốn hiện nay hộ kinh doanh, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân nếu có nhu cầu vay vốn thì phải áp dụng dưới hình thức là cá nhân đứng ra vay, đề nghị vay vốn chuyển từ hộ gia đình thành tên cá nhân đứng ra vay. Đây thực sự là một hạn chế của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Thông tư số 39/2016/TT-NHNN). Bởi lẽ, hiện cả nước có hơn 5,5 triệu hộ kinh doanh cá thể, giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 10 triệu lao động, hàng năm đóng góp không nhỏ vào vào sự phát triển của kinh tế – xã hội đất nước. Tuy nhiên, mô hình hoạt động kinh doanh của hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân trên thực tế các hộ kinh doanh đã rất ít vốn, muốn mở rộng kinh doanh thì họ buộc phải vay vốn ngân hàng, mà lại vay dưới danh nghĩa cá nhân thì hạn mức rất hạn chế, chưa đáp ứng đủng và đủ nhu cầu cho hoạt động kinh doanh, đồng thời, để một cá nhân đứng ra vay vốn cho tổ hợp tác sẽ rất phức tạp, nhiều rủi ro và cá nhân tự chịu trách nhiệm trả nợ chứ không phải danh nghĩa hộ gia đình, hộ kinh doanh.
1.2. Nội dung của hợp đồng tín dụng
Nội dung của hợp đồng tín dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự chỉ yêu cầu có sự thỏa thuận[3], thống nhất ý chí giữa các bên, cụ thể hóa về sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng Thông tư số 39/2017/TT-NHNN quy định khi ký kết hợp đồng tín dụng các bên “phải thỏa thuận” các nội dung sau: “Tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp của tổ chức tín dụng cho vay; tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc mã số doanh nghiệp của khách hàng; số tiền cho vay; hạn mức cho vay; mục đích sử dụng vốn vay; đồng tiền cho vay, đồng tiền trả nợ; phương thức cho vay; thời hạn cho vay; lãi suất cho vay; giải ngân vốn cho vay; việc trả nợ gốc, lãi tiền vay và thứ tự thu hồi nợ gốc, lãi tiền vay; trả nợ trước hạn; cơ cấu lại thời hạn trả nợ; trách nhiệm của khách hàng trong việc phối hợp với tổ chức tín dụng và cung cấp các tài liệu liên quan đến khoản vay; các trường hợp chấm dứt cho vay; thu nợ trước hạn; chuyển nợ quá hạn; xử lý nợ vay; phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại; quyền và trách nhiệm của các bên; hiệu lực của thỏa thuận cho vay”[4]. Những quy định này để đảm bảo tính chặt chẽ của hợp đồng tín dụng, an toàn cho các bên trong quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, sự quy định “phải có” các nội dung trên phần nào làm hạn chế quyền tự định đoạt của các bên, nội dung quá dài, không có sự thống nhất với quy định của Bộ luật Dân sự.
1.3. Hình thức của hợp đồng tín dụng 
Hợp đồng tín dụng là một loại hợp đồng cụ thể của hợp đồng dân sự nói chung. Do vây, hình thức của hợp đồng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, việc thỏa thuận cho vay của các bên trong hợp đồng tín dụng phải được lập thành văn bản[5], đây là một quy định bắt buộc nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, rõ ràng trong thỏa thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp nếu có. Trong xu thế hội nhập như hiện nay ở nước ta cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin thì việc giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản giấy tờ không còn là thích hợp khi cách mạng công nghiệp điện tử 4.0 đang rất phát triển, việc xem xét áp dụng hình thức hợp đồng tín dụng dưới dữ liệu điện tử thông qua mạng internet hoặc các phương tiện điện tử khác, trên cơ sở quy định về “giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử đã công nhận giá trị pháp lý của giao dịch điện tử, giá trị của thông điện dữ liệu điện tử, chữ ký điện tử”[6] các bên có thể giao kết hợp đồng vay tài sản mà không cần phải đi đến tận nơi gặp nhau trực tiếp thương thảo hợp đồng sẽ thúc đẩy việc sử dụng các giao dịch điện tử góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Mặt khác, theo Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung quy định việc phát hành thẻ ghi nợ nội địa, mở và sử dụng dịch vụ tài khoản thanh toán (áp dụng cho khách hàng cá nhân), vay vốn cá nhân (nhằm mục đích tiêu dùng) phải đăng ký hợp đồng theo mẫu[7].
Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra”. “Hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng. Trình tự, thể thức công khai hợp đồng theo mẫu thực hiện theo quy định của pháp luật”[8]
Như vậy, quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg chưa thực sự có sự đồng nhất với nhau. Vì Bộ luật Dân sự chỉ yêu cầu về việc công khai hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung mà không có quy định phải đăng ký hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung. Việc bổ sung các dịch vụ này vào danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung có thể không cần thiết, tạo thêm thủ tục hành chính cho tổ chức tín dụng và có thể tăng thêm chi phí cho người tiêu dùng, đồng thời thêm gánh nặng cho các tổ chức dụng và như vậy, các tổ chức tín dụng khi cho vay sẽ gánh chịu rủi ro lớn trước những trục trặc pháp lý từ nghĩa vụ đăng ký hợp đồng mẫu, sản phẩm, dịch vụ của các tổ chức tín dụng rất đa dạng, nên áp dụng chung một mẫu hợp đồng cho tất cả các lọai sản phẩm, nếu các tổ chức tín dụng chưa kịp đăng ký thì sẽ làm cho giao dịch đó có thể bị tuyên bố vô hiệu. “Một khi các giao dịch vô hiệu, phần thiệt luôn thuộc về phía đơn vị cho vay vì khó mà thu hồi về phần lãi, phí. Trong khi, lãi và phí lại là mục đích tồn tại hoạt động trong kinh doanh của các tổ chức tín dụng”[9]. Do đó, việc đăng ký điều kiện giao dịch chung đối với loại địch vụ này là không phù hợp. Tuy nhiên, trên thực tế, bản “mẫu hợp đồng” mà ngân hàng thương mại đưa ra không được coi là “hợp đồng mẫu” mà chỉ là bản thảo, chi tiết hóa “các quy định phải thỏa thuận” theo Thông tư số 39/2017/TT-NHNN để các bên thuận tiện trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng, tránh xảy ra tranh chấp. Bên vay hoàn toàn có thể thoả thuận với ngân hàng thay đổi bất kỳ nội dung nào. Song trên thực tế, bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản có tính ràng buộc và có lợi hơn cho ngân hàng.
1.4. Mục đích của hợp đồng tín dụng
Các bên tham gia hợp đồng tín dụng đều đạt được những lợi ích nhất định, đối với các tổ chức tín dụng thu được lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp chi phí kinh doanh như: trả lãi tiền gửi, trả lương nhân viên… mà còn nhằm bù đắp những rủi ro có thể xảy ra cho tổ chức tín dụng và cũng có thể là rủi ro của người gửi tiền. Còn đối với khách hàng, khi vay được một khoản tiền để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, hoặc nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng. Tuy nhiên, pháp luật yêu cầu khách hàng phải có trách nhiệm sử dụng đồng vốn một cách hợp pháp[10] thực hiện đúng các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác; nếu tổ chức tín dụng phát hiện khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn. Ngoài ra, nếu khách sử dụng vốn vào những nhu cầu quy định tại Điều 8 Thông tư số 39/2017/TT-NHNN thì sẽ không được xét duyệt hồ sơ vay vốn như: (i) Để thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh; (ii) Để thanh toán các chi phí, đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch, hành vi mà pháp luật cấm; (iii) Để mua, sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh; (iv) Để mua vàng miếng; (v) Để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay; (vi) Để trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác và trả nợ khoản vay nước ngoài. Trên thực tế, để kiểm soát việc khách hàng sử dụng vốn vay có đúng mục đích hay không đây thực sự là điều rất khó cho các tổ chức tín dụng bởi lẽ khi ngân hàng giải ngân khoản vay đó tức là khách hàng có toàn quyền (bao gồm quyền sử dụng, quyền chiếm hữu và quyền định đoạt) đối với khoản tiền mà ngân hàng đã cho vay, nên khi có vốn vay khách hàng rất dễ dàng sử dụng vào mục đích khác.
1.5. Một số điều khoản cơ bản trong hợp đồng tín dụng
1.5.1. Điều khoản về phương thức vay
Phương thức cho vay trong hợp đồng tín dụng là cách thức mà ngân hàng cấp tiền vay cho khách hàng. Tổ chức tín dụng phải thỏa thuận với khách hàng vay về việc áp dụng các phương thức cho vay. Theo Điều 27 Thông tư số 39/2017/TT-NHNN quy định gồm 8 phương thức vay: Cho vay từng lần, cho vay hợp vốn; cho vay lưu vụ, cho vay theo hạn mức, cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng, cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán, cho vay quay vòng, cho vay tuần hoàn. Ngoài ra, tổ chức tín dụng và khách hàng có thể thỏa thuận hình thức cho vay khác mà pháp luật không cấm phù hợp với Quy chế cho vay và điều kiện kinh doanh của tổ chức tín dụng và khách hàng.
1.5.2. Điều khoản về số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay
– Điều khoản về số tiền vay: Số tiền vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, tuy nhiên, số tiền vay phải đảm bảo theo các quy định về hạn mức tín dụng[11], trong đó, tổng dư nợ của một khách hàng đối với tổ chức tín dụng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng trừ trường hợp có sự ủy thác của chính phủ, các tổ chức, cá nhân hoặc khách hàng vay là một tổ chức tín dụng khác. Trong trường hợp nhu cầu của khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, thì tổ chức tín dụng có thể cho vay hợp vốn với các tổ chức tín dụng khác theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, trường hợp đặc biệt Chính phủ có thể quyết định mức cho vay tối đa đối với từng trường hợp cụ thể. Ngoài ra, Điều 127 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định về hạn chế cấp tín dụng, tùy thuộc vào đối tượng được cấp tín dụng mà tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đối tượng là khác nhau: Không quá 5%, 10%, 20% vốn tự có của mình. Để duyệt cho khách hàng vay được một khoản tiền, tổ chức tín dụng phải dựa theo các yếu tố: (i) Nhu cầu vay vốn của khách hàng (dựa theo nhu cầu vay vốn của khách hàng, tổ chức tín dụng xem xét nhu cầu đó để quyết định hạn mức cho vay); (ii) Khả năng trả nợ của khách hàng (đây là căn cứ quan trọng để tổ chức tín dụng xem xét có cho vay hay không? hạn mức cho vay? Khả năng trả nợ của khách hàng căn cứ vào nhiều yếu tố như khả năng tài chính của khách hàng; hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng; lịch sử của khách hàng); (iii) Biện pháp bảo đảm vốn vay (gồm biện pháp đảm bảo bằng tài sản, bảo đảm tiền vay không có bảo đảm về tài sản). Trong đó, biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản là cách thức sử dụng tài sản để cầm cố, thế chấp, trong đó, yêu cầu tài sản đảm bảo phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay cũng có thể là bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba hoặc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản theo cách thức nào là do các bên tự thỏa thuận và phải quy định rõ ràng trong hợp đồng về giá trị tài sản đem ra bảo đảm, theo nguyên tắc là giá trị tài sản bảo đảm này không được thấp hơn giá trị hợp đồng vay[12].
Với quy định này được hiểu giá trị tài sản được coi là căn cứ rất quan trọng để tổ chức tín dụng xét duyệt hồ sơ vay vốn. Tuy nhiên, khi các tổ chức tín dụng cho vay dưới hình thức này cũng gặp không ít rủi ro trong việc thu hồi nợ, bởi lẽ nhiều tài sản khi đưa ra định giá để thu hồi nợ bị giảm đi rất nhiều so với thực tế tại thời điểm định giá cho vay, có thể bị hao mòn, cũ, lạc hậu. Do vậy, các tổ chức tín dụng cần phải thẩm định giá sao cho hợp lý khi đồng ý cho khách hàng vay. Đối với hình thức cho vay không có đảm bảo bằng tài sản thì tổ chức tín dụng chủ động lựa chọn khách hàng để cho vay hoặc cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vau vốn có đảm bảo bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội.
– Điều khoản về lãi suất cho vay: Lãi suất tín dụng là khoản tiền thường được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên tổng số tiền vay mà người đi vay phải trả cho người vay trong thời hạn một tháng, một năm. Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Dựa trên nhu cầu cung và cầu vốn trên thị trường và thực tế hoạt động kinh doanh của mình mà tổ chức tín dụng công bố lãi suất sao cho hợp lý. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: “Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn; tổ chức tín dụng và khách hàng có quyển thỏa thuận về lãi suất theo quy định của pháp luật”[13].
Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc được điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng. Quy định nàyxuất phát từ đặc điểm kinh doanh thu lợi nhuận từ việc cho vay của các tổ chức tín dụng so với quy định của Bộ luật dân sự: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác… Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”. Như vậy, lãi suất tối đa trong các hợp đồng vay tài sản các bên được thỏa thuận theo Bộ luật Dân sự năm 2015 không quá 20%/năm (tức 1,7%/tháng) so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 khoản 1 Điều 476 là 1,125%/01 tháng (tức 13,5%/01 năm) điều này để nhằm tránh điều kiện lạm phát tăng cao, tăng dự trữ bắt buộc, giúp điều tiết lượng tiền lưu trong lưu thông; giúp các tổ chức tín dụng có khả năng huy động vốn, tránh bị thiếu vốn.
– Điều khoản về thời hạn vay: Thời hạn cho vay trong hợp đồng tín dụng  đượccăn cứ vào chu kỳ hoạt động kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn, khả năng trả nợ của khách hàng, nguồn vốn cho vay và thời hạn hoạt động còn lại của tổ chức tín dụng để thỏa thuận về thời hạn cho vay. Thực tế, các tổ chức tín dụng thường phân thành hai loại cơ bản là ngắn hạn và trung, dài hạn, trong đó: Khoản vay vay ngắn hạn là không quá 12 tháng (01 năm); khoản vay trung hạn là từ trên 12 tháng đến 60 tháng (01 – 05 năm); khoản vay dài hạn là trên 60 tháng (05 năm). Riêng đối với khách hàng là pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động hợp pháp còn lại của khách hàng; đối với cá nhân có quốc tịch nước ngoài cư trú tại Việt Nam, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép cư trú còn lại tại Việt Nam. Áp dụng cho khách hàng vay với thời gian nào đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải kiểm tra, thẩm định hồ sơ vay theo những quy trình, thủ tục khác nhau và áp dụng lãi suất khác nhau theo nguyên tắc: thời hạn càng lâu thì càng tiềm tàng rủi ro, và sự nguy hiểm sẽ tăng theo lãi suất.
Thời hạn vay áp dụng trong  hợp đồng tín dụng là thời hạn cho vay, tính theo mốc từ thời điểm bắt đầu nhận khoản tiền vay đầu tiên (ngày rút vốn hay ngày giải ngân) cho đến khi trả hết khoản nợ cuối cùng theo thoả thuận ban đầu.
1.5.3. Điều khoản về kỳ hạn trả nợ và chuyển nợ quá hạn
– Điều khoản về kỳ hạn trả nợ: Nợ gốc được trả khi đến hạn hoặc trả khi kết thúc kỳ gia hạn (nếu có). Nếu không trả nợ, ngân hàng tự động chuyển sang nợ quá hạn. Thực tế một số ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn toàn bộ dư nợ gốc thực tế theo hợp đồng nhưng chỉ tính lãi suất quá hạn đối với phần dư nợ gốc quá hạn. Đối với việc quá hạn trả lãi, các bên có thể thỏa thuận áp dụng hình thức phạt chậm trả tính theo ngày hoặc lãi suất phạt đối với khoản lãi chậm trả.
– Điều khoản về chuyển nợ quá hạn: Nếu khách hàng không trả được nợ gốc đúng kỳ hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị thì tổ chức tín dụng xem xét cho điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. Trường hợp khách hàng không trả nợ hết nợ gốc trong thời hạn cho vay và có văn bản đề nghị gia hạn trả nợ, thì tổ chức tín dụng xem xét gia hạn nợ.
Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lãi, gia hạn trả nợ lãi: Trường hợp khách hàng không trả nợ lãi đúng kỳ hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lãi, thì tổ chức tín dụng xem xét quyết định điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lãi. Trường hợp khách hàng không trả hết nợ lãi trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và có văn bản đề nghị gia hạn nợ lãi, thì tổ chức tín dụng xem xét quyết định thời hạn gia hạn nợ lãi. Thời hạn gia hạn nợ lãi áp dụng theo thời hạn gia hạn nợ gốc.
2. Hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi hợp đồng tín dụng 
Hợp đồng tín dụng với vai trò là kênh huy động vốn quan trọng trong nền kinh tế, vì vậy, để việc giao kết và thực hiện hợp đồng tránh được rủi ro, sự vô hiệu không đáng có, giúp Nhà nước điều tiết được nền kinh tế, chống lạm phát, việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tín dụng cần quan tâm một số vấn đề sau:
2.1. Hoàn thiện điều khoản về nội dung của hợp đồng tín dụng
Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong nội dung hợp đồng cho vay tại Điều 23 phải “có đủ 14 nội dung bắt buộc”, trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ yêu cầu đơn giản về nội dung do các bên tự thỏa thuận. Để tránh trường hợp nếu có những vấn đề phát sinh thì Thông tư này nên sửa đổi theo hướng quy định của Bộ luật Dân sự, nếu các bên không thỏa thuận thì nội dung sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật.
2.2. Hoàn thiện về hình thức của hợp đồng
Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phải thực hiện đăng ký mẫu hợp đồng cho vay (đối với cá nhân) với Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công thương theo Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Điều này cần phải làm rõ có nên bắt buộc các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phải đăng ký hợp đồng mẫu. Nếu mỗi hoạt động đều phải đăng ký với cơ quan quản lý có thể sẽ dẫn tới mất tính cạnh tranh, làm gia tăng thêm về thủ tục hành chính cũng như ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng đến cả quyền lợi của người tiêu dùng, mà các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng không đăng ký kịp sẽ làm hợp đồng vô hiệu, điều này, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng.
2.3. Hoàn thiện điều khoản về mục đích hợp đồng vay
Để bảo đảm việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và khả năng trả nợ của bên vay, Luật các Tổ chức tín dụng quy định, ngân hàng có trách nhiệm và có quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của bên vay, cán bộ tín dụng cần có sự hướng dẫn khách hàng lập một danh sách, mua của ai, người bán ký vào. Tăng cường khả năng giám sát quá trình hoạt động kinh doanh cũng như quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng, nếu phát hiện khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, phải tiến hành lập biên bản, dừng giải ngân. Nếu cần thiết, phải báo ngay đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cùng phối hợp xử lý, đảm bảo tuân thủ quy định cũng như đảm bảo trách nhiệm pháp lý cho chính cán bộ tín dụng và cho những người quyết định đến khoản vay tại ngân hàng.
2.4. Đảm bảo tính thống nhất giữa Bộ luật Dân sự và Luật các Tổ chức tín dụng 
Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trong khi đó, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Như vậy, thực tế khi áp dụng hoạt động cho vay các tổ chức tín dụng cần phải dẫn chiếu ngược lại quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thỏa thuận không được vượt quá mức 20%/năm. Việc dẫn chiếu qua lại lẫn nhau của các văn bản này đang gây lúng túng trong việc áp dụng pháp luật cho các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và Tòa án chưa có sự thống nhất cụ thể nếu có tranh chấp về lãi suất cho vay các tòa áp lập luận áp dụng mức khác nhau (dân sự, hay kinh doanh thương mại).
Theo quy định của Bộ luật Dân sự phải chăng đó là quy định về mức lãi suất trần, các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng sẽ không thể cho vay đối với các khoản vay có giá trị cao điều này dễ gặp rủi ro. Sự quy định này mang tính cứng nhắc trái với nguyên tắc của thị trường  không phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và các cam kết quốc tế của Việt Nam về cải cách hệ thống ngân hàng khi gia nhập WTO. Mặt khác, Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp áp dụng mức lãi suất tối đa đối với cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đối với 05 lĩnh vực ưu tiên do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định trong từng thời kỳ”. Do đó, cần làm rõ sự thỏa thuận theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng của Thông tư số 39/2017/TT-NHNN./.

TS. Nguyễn Thị Thu Thủy
Khoa Luật – Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

[1] Khoản 3 Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN.
[2] Khoản 4 Điều 7 Thông tư số 39/2016/NHNN.
[3] Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Điều 23 Thông tư số 39/2017/TT-NHNN.
[5] Khoản 1 Điều 23 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN.
[6] Điều 33 đến điều 38 Luật Giao dịch điện tử năm 2006
[7] Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg.
[8] Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2015
[9] Gánh nặng từ hợp đồng mẫu: https://dantri.com.vn ngày 14/12/2016.
[10] Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN.
[11] Điều 128 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
[12] Điều 15 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN.
[13] Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (www.tcdcpl.moj.gov.vn)

Tin liên quan