ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HỒ CHÍ MINH
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TRẦN LUẬT
(TRAN LUAT LAW OFFICE)

Trụ sở chính: 129 Dương Quảng Hàm, P.7, Q. Gò Vấp, TP.HCM
Chi nhánh 1 - tỉnh Bình Dương: 600 Lê Hồng Phong, phường Phú Hòa, Tp Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Chi nhánh 2 - tỉnh Bình Dương: Đường ĐT 741, khu phố An Hòa, TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương
ĐT: (08) 22144773
 Tran Luat Law Office

HOTLINE

0971.777.433

Ngân hàng nhận thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba

ThS. NGÔ THỊ MINH HẢI (TAND Tp Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) – Ngày 26/9/2020, Tạp chí Tòa án online có đăng bài “Trao đổi về vấn đề Ngân hàng nhận thế chấp đối với tài sản có bảo lưu quyền sở hữu”, trong bài đăng có đề cập đến việc “Ngân hàng nhận thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba”. Đây là vấn đề rất thiết thực và còn là bất cập trong việc giải quyết án, tôi xin có trao đổi thêm theo quan điểm cá nhân về vấn đề này.

Trước tiên, hiểu rõ thế nào là thế chấp? Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) quy định: Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”. Bản chất của thế chấp tài sản là “dùng tài sản thuộc sở hữu của mình” để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của chính người có tài sản và không giao tài sản cho bên nhận thế chấp.

Vấn đề này, theo quan điểm của PGS.TS Đỗ Văn Đại thì: “Trong quá trình chỉnh lý Dự thảo tại Quốc hội, chưa bao giờ phía Quốc hội theo hướng thế chấp được sử dụng để đảm bảo nghĩa vụ cho người thứ ba… Trong quá trình chỉnh lý Dự thảo tại Quốc hội, ý tưởng dùng tài sản thế chấp để bảo đảm cho người thứ ba cũng bị phía Toa án phản đối…”[1]. Như vậy, việc thế chấp phải được hiểu là sử dụng để đảm bảo cho nghĩa vụ của chính bên thế chấp và không thể hiểu điều luật theo nghĩa là dùng tài sản thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho người thứ ba.

Có quan điểm cho rằng: Quy định về thế chấp được sử dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho chính mình hoặc người thứ 3 hay “Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba” chính là thỏa thuận bảo lãnh của người thứ ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ bảo lãnh bằng tài sản của bên bảo lãnh. Vì vậy, mặc dù Ngân hàng và người thế chấp ký hợp đồng thế chấp nhưng bản chất nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của người vay, nên hợp đồng thế chấp chính là hợp đồng bảo lãnh, nên cần xử lý tài sản thế chấp của người thứ ba nếu người vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ.

Theo tác giả bài viết: Về bản chất, trong quan hệ thế chấp tài sản của bên thứ ba tồn tại đồng thời hai quan hệ:

– Một là, quan hệ bảo lãnh giữa bên vay tiền ngân hàng và bên có tài sản (thế chấp cho ngân hàng). Trong đó, bên có tài sản cam kết bảo lãnh cho khoản vay tại ngân hàng của bên được bảo lãnh bằng tài sản của mình. Trường hợp bên vay tiền ngân hàng không trả được nợ thì bên bảo lãnh có nghĩa vụ trả nợ thay (Điều 335 BLDS năm 2015).

– Hai là, quan hệ thế chấp giữa ngân hàng với bên bảo lãnh. Trong đó, bên bảo lãnh dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để thế chấp cho ngân hàng. Bên bảo lãnh là bên thế chấp, còn bên ngân hàng là bên nhận thế chấp. Do đó, cho dù thế chấp tài sản của bên thứ ba thì tài sản thế chấp cũng phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp.

Đồng tình với quan điểm của tác giả là “thế chấp tài sản của bên thứ ba thì tài sản thế chấp cũng phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp”. Tuy nhiên, tôi không đồng ý với quan điểm cho rằng: Quan hệ thế chấp tài sản của bên thứ ba tồn tại đồng thời hai quan hệ, đó là (1) quan hệ bảo lãnh và (2) quan hệ thế chấp.

Chúng ta biết, thế chấp tài sản và bảo lãnh là hai chế định riêng và độc lập được quy định rõ ràng tại tiểu mục 3 và tiểu mục 6 của BLDS. Việc quy định nghĩa vụ bảo lãnh có thể được đảm bảo bởi tài sản của bên bảo lãnh theo quy định tại khoản 3 Điều 336 BLDS, nên không thể đánh đồng với quy định tại khoản 1 Điều 317 BLDS. Hơn nữa, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình, được hưởng thù lao nếu có thỏa thuận. Đó là bản chất của hợp đồng ba bên: Bên bảo lãnh – bên nhận bảo lãnh – bên được bảo lãnh. Còn đối với hợp đồng thế chấp chỉ có quy định về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp mà chưa có quy định rõ ràng để bảo vệ quyền lợi của bên thế chấp đối với bên được thế chấp, trừ khi hai bên có thỏa thuận riêng biệt. Hiện nay, BLDS có các quy định mới về bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản của bên bảo lãnh so với các quy định về bảo lãnh của BLDS năm 2005 là rõ ràng, phù hợp hơn các quy định về bảo lãnh còn bất cập trước đây.

Thực tiễn xét xử, nhiều Tòa án có quan điểm không công nhận tính hợp pháp của hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba và tuyên vô hiệu đối với hợp đồng thế chấp. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm chưa thống nhất về vấn đề này.

Vì vậy, để thống nhất việc áp dụng pháp luật và để bảo vệ quyền lợi cho người cho ngân hàng – người vay – người thế chấp – người bảo lãnh, tác giả đề xuất giải pháp:

– Một là, cần có hướng dẫn cụ thể và rõ ràng về “Thế chấp tài sản tài sản của bên thứ ba” đối với các tranh chấp hợp đồng tín dụng có tài sản bảo đảm của bên thứ ba.

– Hai là, đối với trường hợp người thứ ba dùng tài sản của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì các bên (ngân hàng – người vay – người bảo lãnh) nên ký hợp đồng bảo lãnh có thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh một cách rõ ràng để đảm bảo quyền lợi của chính Ngân hàng.

Trên đây là quan điểm cá nhân của tôi trao đổi về vấn đề trên, mong nhận được các ý kiến trao đổi của các độc giả.

[1] Đỗ Văn Đại (2020), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 (sách chuyên khảo, tái bản lần thứ ba), Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 341 – 342.

Tin liên quan